Bảo đảm quyền có người bảo vệ của bị hại trong tố tụng hình sự - tiếp cận từ pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia
DOI:
https://doi.org/10.59394/qlnn.363.2026.1494Từ khóa:
Bị hại, người bảo vệ, tố tụng hình sự, pháp luật quốc tế, trợ giúp pháp lýTóm tắt
Bài viết phân tích quyền có người bảo vệ của bị hại trong tố tụng hình sự từ góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia. Trên cơ sở khái quát các chuẩn mực về quyền tiếp cận công lý, trợ giúp pháp lý và quyền có người đại diện, bài viết làm rõ nội dung, ý nghĩa của quyền này; đồng thời, chỉ ra hạn chế, bất cập; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường bảo vệ bị hại và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho nhóm chủ thể này ở Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
Quốc hội (2015, 2025). Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Quốc hội (2017). Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.
United Nations (1985). Declaration of Basic Principles of Justice for Victims of Crime and Abuse of Power.
Council of Europe. European Convention on Human Rights (ECHR).
European Union (2012). Directive 2012/29/EU establishing minimum standards on the rights, support and protection of victims of crime.
Strafprozessordnung (StPO) - German Code of Criminal Procedure.
Code de procédure pénale (CPP) - French Code of Criminal Procedure.
Codice di Procedura Penale - Italian Code of Criminal Procedure.
U.S. Department of Justice (2004). Crime Victims' Rights Act (18 U.S.C. § 3771).
UK Ministry of Justice (2015). Victims’ Code.
Supreme Court of Canada (1999). R v. Mills. [1999] 3 S.C.R. 668.



